Trang chủ|Liên kết|Video - Audio
Tin tức - Bài viết
Tiêu điểm
HIỆN TƯỢNG THƠ VĂN LINH CẢM
NHÂN LOẠI ĐANG ĐI ĐẾN DIỆT VONG - Lời kêu gọi của các nhà ngoại cảm
Mô hình ba yếu tố về con người
TIÊN ĐOÁN VỀ XUẤT HIỆN THẾ KỶ TÂM LINH
Lý thuyết về vũ trụ đa chiều thực tại
Thông điệp từ bộ lạc Kogi
Mạt kiếp - Huyền thoại hay sự thật?
THẾ GIỚI TÂM LINH
ĐỊNH LUẬT THIÊN CƠ
THÁNH THẦN CẢNH BÁO
MẪU GỌI CÁC CON
ĐÒN CẢNH CÁO 2006
NGUYỄN TRÃI ỨNG LINH
LỜI THÁNH GIÓNG
Triết lý của Eckharrt Tolle
LỜI MẪU ÂU CƠ - 4
BÍ ẨN VỀ KINH KIM CƯƠNG
KINH THIÊN LÔI
LỜI MẪU ÂU CƠ - 3
MẪU TRUYỀN LONG HỘI
LỜI MẪU ÂU CƠ - 5
LỜI NGỌC PHẬT - 1
LỜI MẪU ÂU CƠ - 6
LỜI MẪU ÂU CƠ - 7
LỜI NGỌC PHẬT - 2
LỜI MẪU ÂU CƠ - 8
VĂN LỆNH CHỈ
LỜI VÀNG TIẾNG NGỌC
KHUYÊN TU KÍP KỲ
KHUYÊN NGƯỜI TU THÂN
GIẢ THUYẾT VÊ KHÔNG GIAN 5 CHIỀU
Phản biện giả thuyết "Không gian 5 chiều"
Xem:
blog counter
 

BÍ ẨN VỀ KINH KIM CƯƠNG
(Gửi vào: 8/30/2007 8:33:08 PM)
Kinh Kim Cương đã được Phật Thích Ca nói ra cách nay 25 thế kỷ với sự hiện diện của 1250 tu sĩ. Kinh này đã được thuật lại bởi A Nan, một đại đệ tử gần gũi nhất của Đức Phật trong 27 năm. KInh Kim Cương chứa đựng những điều cực kỳ bí ẩn. Cho đến nay người ta vẫn không có cách hiểu xác thực phần lớn nội dung của Kinh Kim Cương.

 

        1.  Đây là những gì mà tôi đã được nghe vào thời ấy. Phật ngụ tại thành Xá Vệ (Shravasri). Buổi sáng sớm Ngài mặc trang phục, khoác áo cà sa, cầm bình bát đi vào thành khất thực. Khi trở về, ăn xong, Ngài xếp gọn y bát, rửa chân và ngồi lên chiếc bồ đoàn dành cho Ngài, hai chân xếp chéo, thân ngay thẳng, mắt chăm chú nhìn về phía trước. Lúc ấy các tu sĩ, từng nhóm đông, tiến tới cung kính đảnh lễ Phật và đi vòng ba lần qua bên phải rồi ngồi xuống.

        2.  Lúc ấy tôn giả Tu Bồ Đề cũng đang ngồi giữa hội chúng. Ông đứng dậy, vắt một vạt áo lên vai, quỳ gối bên phải xuống đất, chắp hai tay hướng về Phật mà thưa rằng, “Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, vô cùng kỳ diệu sự hộ trì mà Như Lai đã ban cho các vị bồ tát, những sinh linh thượng đẳng! Vậy, Bạch Thế Tôn, hành giả đi theo con đường của Bồ Tát phải làm gì để an trụ tâm, làm gì để hàng phục tâm?

       3.  Phật bảo, “Này Tu Bồ Đề, ông hãy chú ý lắng nghe! Hành giả đi theo con đường của Bồ Tát cần phải nghĩ rằng, tất cả các loài chúng sinh trong Vũ Trụ, dù nhiều vô lượng, ta phải dẫn dắt họ đến Niết Bàn, nơi chẳng còn để lại cái gì ở phía sau. Tuy nhiên, mặc dù vô lượng vô biên chúng sinh đã được dẫn dắt vào Niết Bàn, nhưng thật ra không có chúng sinh nào vào Niết Bàn cả. Tại sao? Bởi vì nếu một vị Bồ Tát còn có ý nghĩ về một chúng sinh thì không thể được gọi là Bồ Tát. Tại sao vậy? Bởi vì, nếu một ai đó còn có ý nghĩ về ta, về người, về linh hồn, về mạng sống thì không phải là Bồ Tát”.

        4.  “Bởi vì, dù bất cứ ở đâu, một vị Bồ Tát khi bố thí không nên chấp vào bất cứ một điều gì. Bồ Tát nên bố thí mà không cần được trợ giúp bởi một tín hiệu nào. Tại sao vậy? Bởi vì nếu Bồ Tát bố thí một cách hoàn toàn vô tư thì phúc đức thật là vô lượng”.

       5.  Phật hỏi, “Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao, ông có cho rằng thấy được các hình tướng của Như Lai là thấy được Như Lai không?”. Ông Tu Bồ Đề thưa, “Bạch Thế Tôn, không thể cho rằng thấy được các hình tướng của Như Lai là thấy được Như Lai. Tại sao vậy? Vì Như Lai đã dạy rằng, các hình tướng của Như Lai không phải thật là các hình tướng của Như Lai. Phật nói tiếp, “Bất kỳ cái gì có hình tướng đều là giả. Nếu các ông hiểu rằng tất cả mọi hình tướng đều là không thật thì các ông thấy được Như Lai”. 

     “Tại sao vậy? Bởi vì những vị Bồ Tát đó không còn chấp có ta, có người, có linh hồn, có mạng sống, cũng không chấp có chính pháp và không chính pháp. Họ không còn có cảm nhận hay không cảm nhận. Này Tu Bồ Đề, nếu các vị Bồ Tát ấy còn phân biệt có chính pháp và không chính pháp thì còn phân biệt có ta, có người, có linh hồn, có mạng sống. Cũng vì lẽ đó mà Như Lai thường dạy: pháp của Ta cũng như chiếc đò đưa người qua sông, các ông không nên chấp bám vào pháp. Chính pháp còn phải bỏ, huống chi là không chính pháp”.

6.  Ông Tu Bồ Đề hỏi Phật, “Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, thời mạt pháp, trong năm trăm năm cuối cùng, vào lúc chính pháp suy đồi, sụp đổ, chúng sinh nghe giảng Kinh này chẳng biết có hiểu được chân lý hay không?”. Phật bảo, “Tu Bồ Đề, ông chớ nói như vậy! Cả trong thời vị lai, mạt pháp cũng có những chúng sinh khi nghe giảng Kinh này sẽ hiểu được Chân Lý. Bởi vì, Tu Bồ Đề, trong thời vị lai, mạt pháp vẫn sẽ có những vị Bồ Tát. Những vị đó đã trồng căn lành (đã tu) không phải chỉ một đời Phật mà họ đã nhiều kiếp tu hành, từ vô số chư Phật, nên khi được nghe những lời Kinh này thì họ sẽ hiểu và sẽ tin. Tu Bồ Đề! Như Lai biết rõ họ nhờ có Trí Huệ của Phật, Như Lai thấy rõ họ nhờ Huệ Nhãn của Phật. Tu Bồ Đề! Như Lai hoàn toàn biết rõ họ. Và tất cả họ sẽ được phúc đức vô lượng vô biên”.

8.  Phật hỏi, “Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao? Như Lai có thành Phật (có chứng ngộ) không? Và Như Lai có thuyết pháp không?”. Tu Bồ Đề thưa, “Bạch Thế Tôn, theo chỗ con hiểu những gì mà Phật nói thì Như Lai không thành Phật và Như Lai cũng không thuyết pháp. Tại sao vậy? Vì pháp của Như Lai không thể nắm bắt được, không thể nói được, chẳng phải chính pháp và cũng chẳng phải không chính pháp. Vì sao vậy? Vì cái Tuyệt Đối làm nức lòng các bậc Thánh Hiền”.

9.  Lúc ấy Phật bảo, “Phải, Tu Bồ Đề, bởi vì Như Lai đã dạy rằng các pháp riêng biệt của chư Phật không phải riêng biệt của một vị Phật. Vì vậy mới gọi là các pháp riêng biệt của chư Phật”.

10Phật hỏi, “Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao, một vị Tu Đà Hoàn có nghĩ rằng mình đắc quả Tu Đà Hoàn chăng?”. Tu Bồ Đề thưa, “Bạch Thế Tôn, không. Tại sao vậy? Bởi vì một vị Tu Đà Hoàn không còn thấy mình chứng đắc quả Tu Đà Hoàn mới gọi là Tu Đà Hoàn”.

      Phật hỏi, “Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao, một vị A La Hán có nghĩ rằng mình đắc quả A La Hán chăng?” Tu Bồ Đề thưa, “Bạch Thế Tôn, không. Tại sao vậy? Bởi vì một vị A La Hán không còn thấy mình chứng đắc quả A La Hán mới gọi là A La Hán. Cũng như con đây, con không nghĩ mình đã tu chứng nên Như Lai mới gọi con là Người trong Cõi lặng, con không nghĩ mình đắc quả A La Hán nên Như Lai nói Tu Bồ Đề là bậc A La Hán không còn ham muốn, người không ở đâu cả nên gọi là Người trong Cõi lặng”.

      Phật hỏi, “Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao, trong quá khứ Như Lai có đắc pháp nào với Phật Nhiên Đăng không? Tu Bồ Đề thưa, “Bạch Thế Tôn, không. Như Lai không có đắc pháp nào cả”. Phật lại hỏi, “Một vị Bồ Tát có nói rằng mình tạo nên Phật trường hài hoà không?”. Tu Bồ Đề thưa, “Bạch Thế Tôn, một vị Bồ Tát không nói mình tạo nên Phật trường hài hoà. Tại sao vậy? Vì Như Lai đã dạy rằng, các Phật trường hài hoà là không hài hoà, vậy mới gọi là những Phật trường hài hoà”.

13Phật bảo, “Tu Bồ Đề, ông hãy tưởng tượng có một người đàn ông và một người đàn bà đem bố thí tất cả tài sản của họ, nhiều như cát sông Hằng, và một người khác trích một đoạn bốn câu nói về Pháp của Kinh này, đem giảng cho nhiều người được hiểu. Do việc này, công đức của người sau sẽ nhiều vô lượng vô biên so với hai người trước”.

14Khi ấy, tôn giả Tu Bồ Đề xúc động rơi nước mắt, bạch Đức Phật rằng, “Bạch Thế Tôn, thật là huyền diệu, vô cùng huyền diệu, cách thức mà Như Lai giảng giải nghĩa lý cao siêu tuyệt vời của Kinh này! Nhờ vậy, con đã hiểu và đó không phải là một cảm nhận. Tại sao vậy? Bởi vì các Đức Phật, những vị Toàn Giác, đã buông bỏ tất cả mọi cảm nhận (do các giác quan)”.

      Phật nói, “Đúng vậy, Tu Bồ Đề. Nếu có người nào nghe Kinh này mà không nghi ngờ, không sợ hãi, không kinh khiếp thì người đó sẽ được phúc đức vô lượng, là người thật hy hữu. Còn nữa, Tu Bồ Đề, sự nhẫn nhục hoàn toàn của Như Lai thực ra không phải là hoàn toàn. Tại sao vậy? Bởi vì, Tu Bồ Đề, trong một kiếp trước của Ta, khi vua Ca Lợi (Kalinga) xẻo thịt tay chân Ta, lúc ấy Ta đã không cảm nhận về cái ta, về con người, về linh hồn, về mạng sống. Tại sao vậy? Bởi vì, Tu Bồ Đề, nếu lúc ấy Ta có cảm nhận về cái ta thì đồng thời Ta cũng đã có cảm nhận về sự oán hận”.

      “Và còn nữa, Tu Bồ Đề, chính vì lợi ích của tất cả chúng sinh mà một vị Bồ Tát phải bố thí như thế. Tại sao vậy? Bởi vì, Tu Bồ Đề, sự cảm nhận của một con người đơn giản là sự không cảm nhận. Tất cả chúng sinh mà Như Lai đã nói đến, thực ra chẳng có chúng sinh nào. Tại sao vậy? Bởi vì tất cả những gì có hình tướng đều là giả. Như Lai nói đúng sự thật, không có gì khác hơn. Như Lai không nói sai”.

17“Tu Bồ Đề, Như Lai đồng nghĩa với Phản Ánh Đúng Như Thế”.

21Phật hỏi, “Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao, ông có cho rằng Như Lai đã từng nói pháp chăng? Tu Bồ Đề, bất kỳ ai khẳng định Như Lai đã nói pháp thì người ấy sẽ nói sai, người ấy hiểu sai Ta bởi việc chỉ nắm được cái không có đó. Tại sao vậy?”

22“Bởi vì ngay cả một pháp nhỏ nhất cũng không tìm được hay nhận được. Vì thế mới gọi là chứng ngộ hoàn hảo, chính đẳng chính giác. Tự mọi vật qua việc thiếu vắng cái ta, cái người, linh hồn, mạng sống và chứng ngộ hoàn hảo, chính đẳng chính giác được biết đầy đủ như toàn bộ của tất cả pháp”.

24“Ông nghĩ sao, Tu Bồ Đề, ông có cho rằng Như Lai đã đem lại giải thoát cho chúng sinh không? Đừng nghĩ như thế, Tu Bồ Đề! Tại sao vậy? Vì chẳng có chúng sinh nào mà Như Lai đã giải thoát cả”.

26. Lại nữa, Phật đã dạy nhân đoạn kệ sau:

                 “Nếu dùng sắc thấy Ta,

                  Nếu dùng âm thanh cầu Ta,      

                  Họ đều cố gắng sai,      

                  Không thể thấy Như Lai”.

Từ Pháp người ta thấy các vị Phật,

Từ Pháp - thân có hướng dẫn của họ.

Vậy mà bản tính đúng đắn của Pháp không thể nào được thấy rõ.

Và không ai có thể ý thức về nó như một vật.

 

        29. “Bất kỳ ai nói rằng Như Lai đi hay đến, đứng, ngồi hay nằm thì người ấy đều không hiểu ý nghĩa của giáo huấn Ta. Tại sao vậy? Như Lai là tên gọi cho người chẳng đi đâu cả, không đến đâu cả. Do vậy mới gọi là Như Lai, A La Hán, Người Hoàn Toàn Chứng Ngộ”.

                                 ST (Theo Kinh Kim Cương của Osho, Ngô Trung Việt dịch, 9-1998)

 

        ------------------------------------------------------------------------------

- Tu Bồ Đề là một trong 10 đại đệ tử của Phật, người đã đạt đến trạng thái Bồ Tát (sắp chứng ngộ).

- Người ta cho rằng, sự ảnh hưởng rõ rệt của mỗi thời kỳ Phật kéo dài khoảng 25 thế kỷ.

- Pháp là giáo huấn truyền giảng về sự giải thoát con người khỏi vòng luân hồi sinh tử.

 




Bản để in Gửi mail cho bạn
 
Các tin khác
  Đúc tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông (09/12/2009)
  Lời Mẫu Hoàng gửi toàn dân, nước (25/07/2009)
  Lời ước của Thánh Thần (01/07/2009)
  Lời Thánh Thần cảnh báo 2 (04/06/2009)
  Lời Thánh Thần cảnh báo 1 (04/06/2009)
  Làm theo Lời Thánh dạy (03/06/2009)
  Phép Thánh Thần (02/06/2009)
  Sư phạm Luật Thiên Âm (28/05/2009)
  Lời của Mẫu Âu Cơ (19/05/2009)
  Lời Thánh dạy (04/05/2009)
Name: 
Address: 
Country: 
Phone number: 
Email:  
Content: